Posts Tagged ‘dancesport’
Chiếc khăn của điệu Paso
Ngồi xả hơi, nhâm nhi hương vị của chút thời gian rảnh rỗi còn lại trong ngày, anh chàng matador thấy rất sung sướng vì đã tập trung cao độ trong mấy cuộc đấu gần nhất. Dù chưa đạt tới đỉnh cao “một đòn chết bảy” nhưng cũng khiến không ruồi muỗi nào dám vo ve. Read the rest of this entry »
Điệu nhảy Quickstep
Trong những năm 1920, nhiều ban nhạc chơi Foxtrot rất nhanh, tới 50 nhịp/phút, khiến cho nhiều bước nhảy của Foxtrot không thể nhảy được . Read the rest of this entry »
Chacha – Lịch sử và đặc trưng
1. Lịch sử:
Vào cuối những năm 1940, thành phố Havana, Cuba, là một trong những khu nghỉ mát nổi tiếng nhất Bắc Mỹ – đặc biệt là vùng nằm dọc theo bờ biển phía tây. Các băng nhạc nhảy nổi tiếng của Mỹ cũng như nhiều băng nhạc latin bản xứ nổi tiếng khác chơi nhạc tại các sòng bạc của thành phố. Một số dàn nhạc thử kết hợp phách Jazz Châu Mỹ với giai điệu Rumba của Cuba và tạo ra một giai điệu mới gọi là Mambo. Từ đó một điệu nhảy được phát triển theo giai điệu mambo mới. Vì lý do này điệu nhảy phổ biến chủ yếu với những người quen với âm nhạc Afro-Cuba đầy phức tạp. Trong số những hình điệu của điệu mambo có một hình điệu có tên “chatch” gồm ba chuyển động nhanh Read the rest of this entry »
Tango cá tính
Mặc dù thường xuất hiện trong những buổi dạ hội của giới thượng lưu, nhưng điệu Tango lại bắt nguồn từ tầng lớp thấp hơn trong xã hội, đó là những khu nhà chứa ở Argentina vào đầu thế kỷ XX khi những người di cư từ châu Âu, châu Phi… đổ về khu ngoại ô Buenos Aires.
Mặc dù thường xuất hiện trong những buổi dạ hội của xã hội thượng lưu, với những quí bà trong các bộ áo dài dạ hội lấp lánh và những quí ông trong các bộ ximốckinh và áo đuôi tôm, điệu Tango lại bắt nguồn từ một tầng lớp thấp hơn trong xã hội – đó là những khu nhà chứa ở Argentina vào đầu thế kỷ XX khi những người di cư từ châu Âu, châu Phi… đổ về khu ngoại ô Buenos Aires. Từ đây, sự hòa trộn các nền văn hóa đã làm nảy sinh ra một loại nhạc mới – đó chính là Tango.
Mặc dù các nhà nghiên cứu lịch sử âm nhạc đã tranh cãi khá nhiều về nguồn gốc xác thực của nó, nhưng nói chung người ta cũng phải thừa nhận rằng điệu Tango đã vay mượn từ nhiều nước như: giai điệu mà những nô lệ châu Phi (candombe) gõ trên trống; điệu nhạc milonga của những cánh đồng hoang Nam Mỹ kết hợp giữa những giai điệu Ấn Độ với điệu nhạc của những người Tây Ban Nha đi khai hoang. Ngoài ra còn có những ảnh hưởng khác, trong đó có Latin. Một số người cho rằng từ “Tango” xuất phát từ tiếng Latin “tangere” (nghĩa là kề sát nhau).
Cuộc di cư ồ ạt của những người châu Âu tới Argentina đã ảnh hưởng nhiều đến Tango, cả về âm nhạc lẫn điệu nhảy. Giữa những năm 1911 và 1913, dân số Buenos Aires đã gia tăng từ 2 đến 8 triệu người. Tỷ lệ đàn ông/đàn bà là 10/1. Cuộc sống đối với những người di cư lúc bấy giờ quả là một địa ngục, nhưng chính vào thời gian này họ đã phát triển lên một điệu nhảy mang dáng dấp của tầng lớp mình. Tiếng than van, rền rĩ của Tango, như người ta nói, kể lể nhiều hơn là chỉ những mối tình không thành. Nó nói về sự bất hạnh, về những số phận bị nhấn chìm trong đau khổ. Tango – đó là âm nhạc của niềm đau khổ. Trong thời gian này, Tango thường được chơi trên bandoneon (một nhạc cụ giống như accordion du nhập vào Argentina từ Đức năm 1886).
Với sự thông qua quyền bỏ phiếu phổ thông ở Argentina năm 1912 – các tầng lớp thấp hơn đã được cho phép quyền bầu cử; điều này đã góp phần hợp thức hóa những tài sản văn hóa của họ, bao gồm cả Tango. Khi đã hòa hợp vào xã hội lớn, Tango đã mất đi ít nhiều những phần thô ráp của nó. Tuy nhiên, cấu trúc của điệu nhảy vẫn không hề thay đổi và Tango đã nhanh chóng phát triển thành một điệu nhảy thịnh hành trên toàn thế giới.
Trong hai thập kỷ đầu tiên của thế kỷ, điệu Tango đã khiến cả Paris quay cuồng như trong cơn bão. Sự chấp nhận của những người Paris đã biến Tango thành một chuẩn mực chính trong giới thượng lưu Argentina. Tango giữ một vị trí tối thượng trong các tiệm ăn, các nhà hát mà những người giàu có thường lui tới. Những nhạc sĩ Tango được nâng lên địa vị của những nhà soạn nhạc chuyên nghiệp. Một người tiên phong trong thể loại này, Roberto Firpo, đã sáng tạo ra dàn nhạc Tango điển hình – nhịp điệu được chơi trên piano và contrabass; giai điệu được chơi trên bandoneon và violin. Những ngôi sao của thời kỳ này là Osvaldo Fresedo và Julio de Caro. Tango Argentine chịu nhiều ảnh hưởng của các điệu nhảy châu Âu du nhập theo làn sóng di cư. Nó trở thành một mốt thịnh hành của Pháp và sau đó một thời gian ngắn ở Anh, rồi Mỹ. Mỗi nước lại thay đổi nó theo cách của mình. Những người Anglos đơn giản hóa điệu nhảy. Các thầy giáo người Mỹ dạy điệu Foxtrot nhưng lại gọi đó là Tango. Tango châu Mỹ chưa tồn tại cho tới tận những năm 1913-1919 của thế kỷ, lúc đó Tango được du nhập từ Pháp, nhưng chủ yếu là qua Anh.
Loại nhạc này nhanh chóng trở nên phổ biến ở Ý và trở thành quốc nhạc ở Phần Lan. Nhà soạn nhạc Kurt Weill cũng đã viết một số tác phẩm, trong đó nổi tiếng nhất là “Der Matrosensagen” (Bài hát của người thuỷ thủ). Âm nhạc Tango từ đó bị ảnh hưởng từ những làn sóng âm nhạc khác từ châu Âu. Một nhạc sĩ Mỹ là Astor Piazzola đã mang những yếu tố của nhạc jazz vào trong Tango. Năm 1918, viết lời cho nhạc Tango có xu hướng phát triển mạnh và từ đó xuất hiện một ngôi sao mà giờ đây vẫn còn nổi danh 5 thập kỷ sau khi ông mất – ca sĩ Carlos Gardel. Hồi ức về lối trình diễn đầy lôi cuốn của ca sĩ điển trai này để lại trong lòng người Argentina niềm sùng bái, không giống như những gì mà Elvis Presley đã có được ở Mỹ.
Năm 1930, một cuộc đảo chính quân sự ở Argentina đã đặt dấu chấm hết cho quyền bầu cử của công dân và do đó đã làm câm lặng tiếng nói của mọi người – Tango. Trong thời gian này một ca sĩ nhạc Tango đồng thời cũng là một nhà triết học đã nổi lên, Enrique Santos Discepolo. Ông nổi tiếng với câu nói “Thế kỷ 20 là một đống tro tàn mà không ai có thể phủ nhận…” Tango sống trở lại vào cuối những năm 1930 khi nhân dân Argentina đoạt lại quyền tự do chính trị của mình. Họ kỷ niệm việc thăng tiến địa vị xã hội bằng Tango và điều này trở thành một biểu tượng cho tình đoàn kết và là một phần cuộc sống hàng ngày của họ. Những nhạc sĩ Tango nổi tiếng đi theo những xu hướng mới như Fresedo, de Caro, Pugliese, và Anibal Troilo.
Không bao lâu sau, giới trí thức phong lưu mà giờ đây đã trở nên khác biệt hẳn so với tầng lớp lao động bắt đầu viết lời cho Tango. Vì những ảnh hưởng của họ, Tango trở nên lãng mạn hơn, hoài cổ hơn và là một ký ức ngọt ngào về tuổi thanh xuân trong một xã hội bình dị không bao giờ tồn tại. Khi Juan Peron nắm quyền năm 1946, Tango lại trở nên cực thịnh ở Argentina vì cả ông và phu nhân Evita đều hết lòng ủng hộ loại nhạc này. Nhưng sau cái chết của bà năm 1952, Tango lại rơi ra khỏi địa vị thống trị của nó.
Với sự xâm chiếm của nhạc rock n’ roll của Mỹ, Tango lại lỡ bước với thời gian. Năm 1985, chuyến lưu diễn của các vũ sư người Pháp “Tango Argentino” đã làm cả New York rung động. Vé vào cửa được bán hết ngay trong ngày đầu tiên. Tiếp tục lưu diễn qua châu Âu, phần còn lại của châu Mỹ, Nhật và Nam Mỹ, điệu nhảy Tango đã để lại trong lòng những người hâm mộ những ấn tượng không thể phai mờ. Tango đã trở thành một ngành công nghiệp nhỏ nhưng mạnh ở Argentina và đã trở thành một trong những sản phẩm xuất khẩu có nhiều ảnh hưởng. Ngày nay Tango lại đang trong thời kỳ phục hưng và loại hình nghệ thuật này lại bắt đầu bừng cháy lên rạng rỡ.
Đặc trưng:
- Nhịp phách: 2/4 và 4/4 (phách 1 được nhấn mạnh, phách 3 nhẹ hơn; vào ở phách 1 với nhạc 4/4).
- Tốc độ: 32 – 33 nhịp/phút, tức là 128 – 132 phách/phút.
- Cách đếm: Kết hợp giữa S, Q và & (S là 2 phách, Q là 1 phách, & là nửa phách).
Hiểu thêm về khiêu vũ thể thao
Khác với khiêu vũ giao tiếp và khiêu vũ biểu diễn, Khiêu vũ thể thao (KVTT) có những đòi hỏi rất cao về kỹ thuật và luật lệ thi đấu.
KVTT bao gồm 10 vũ điệu quy định, được phân thành 2 dòng: Vì sao Khiêu vũ thi đấu lại gọi là Khiêu vũ Thể thao? Ngày 8/9/1997 trong giới Dancesport diễn ra một sự kiện trọng đại. Vào ngày đó Uỷ ban Olympic Quốc tế (IOC) công bố Liên đoàn khiêu vũ thể thao quốc tế (IDSF) chính thức được công nhận và trở thành thành viên toàn quyền của IOC. Sự công nhận đó trên toàn thế giới được coi là thành tựu lớn nhất của IDSF nói riêng và của bộ môn Dancesport (DS) nói chung. Nó đồng thời là đỉnh cao của lịch sử phát triển lâu dài của DS, của 6 năm trời đấu tranh cật lực của IDSF, của sự ủng hộ to lớn của LHQ và của hàng trăm ngàn vũ công trên toàn thế giới. Dancesport có một lịch sử phát triển lâu dài, mà ở nhiều khía cạnh nó vừa mang tính phổ cập, giải trí, đồng thời cũng là một dạng thi đấu thể thao. Như chúng ta đã biết, môn khiêu vũ được ra đời ở nước Anh từ cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, nó gắn liền với các vũ hội của giới thượng lưu. Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, khiêu vũ mới được phổ biến trong tầng lớp bình dân. Cho đến đầu những năm 20 của thế kỷ trước, các cuộc thi khiêu vũ mới bắt đầu phát triển. Năm 1924 tại Anh, Hiệp hội vũ sư mới lập ra Chi hội khiêu vũ với nhiệm vụ đề ra các tiêu chuẩn (Standard) về nhạc; bước; kỹ thuật biểu diễn cho DS. Dần dần, bộ môn này mới lan rộng ra toàn châu Âu, tới châu Á và châu Mỹ. Trước kia khiêu vũ được coi là một dạng nghệ thuật, ngày nay người ta coi các điệu nhảy thi đấu là một dạng thể thao nghệ thuật. Tại sao khiêu vũ có thể coi là thể thao? Bởi vì nó đòi hỏi các vũ công phải có những phẩm chất đặc trưng của một vận động viên thể thao chân chính:
Ở Việt nam bộ môn Dancesport còn hết sức non trẻ và mang tính tự phát. Tuy nhiên do sự vận động của một số cá nhân tâm huyết, Liên đoàn dancesport thế giới (IDSF) thông qua Liên đoàn DS Asean (ADSF) cũng đã công nhận Liên đoàn DS Việt nam (dù trên thực tế nó chưa chính thức ra đời!) để giúp các cặp nhảy Việt Nam có cơ hội tham gia thi đấu ở các giải quốc tế và khu vực. |
Kỹ thuật khiêu vũ cơ bản
Trong lúc xem vài instructional của DVD do có một số thầy dạy nhảy tên tuổi lão thành và lão nghề trong thế giớ khiêu vũ quốc tết thuyết giảng, tôi nghĩ ra một điều để xin được trao đổi với các bạn ở Vietnam như là những người bạn có cùng một đam mê khiêu vũ: đó là BASIC trong khiêu vũ quốc tế.
Nghệ thuật làm chủ sàn nhảy
Floorcraft người Nga dịch là Làm chủ sàn nhảy. Vậy Floorcraft là gì “Đó là khả năng chuyển động theo ý muốn trên sàn mà không làm cản trở người khác và không ảnh hưởng đến điệu nhảy của mình”. Trong đó bao gồm cả khả năng dự đoán hướng chuyển động của các cặp khác trên sàn để có định hướng thích hợp cho chuyển động của mình, nhằm tránh được va chạm mà vẫn đảm bảo được vẻ đẹp của điệu nhảy.

Floorcraft là một chỉ số biểu hiện trình độ của vũ công, nó nói lên ý thức tôn trọng của vũ công với đối thủ và với khán giả, là một chỉ tiêu quan trọng Read the rest of this entry »
Tốc độ và biểu cảm
Nói về biểu cảm, theo như tôi hiểu thì biểu cảm là cốt lõi cuả khiêu vũ bất luận ở thể loại nào – folk dances, ballet dances hay ballroom dances hoặc latin dances v.v… Có một chuyên gia đã nói như sau về biểu cảm: KHÔNG AI DẠY CÁC BẠN BIỂU CẢM, BẠN KHÔNG MUA ĐƯỢC BIỂU CẢM, VÌ BIỂU CẢM GẦN NHƯ GẮN LIỀN VỚI PERSONALITY VÀ LÀ DO TRỜI PHÚ CHO CÁI NĂNG KHIẾU NÀY “. Tuy nói vậy nhưng trong lúc xem các cặp sao và chuyên nghiệp tập luyện, thi đấu trong DWTS, nghe những nhận xét cuả các giám khảo sau mỗi bài thi thì tôi hiểu được là biểu cảm tốt cũng do tập luyện mà ra, do bài biên đạo hay và cũng có thể là do bài nhạc phù hợp với bài biên đạo nữa. Bà Shirley Ballas đã nói với sao nữ Sabrina nhảy cặp với Mark Ballas trong lúc tập luyện bài thi nhảy Rumba là ” cần phải diễn kịch (acting) để trình diễn được tính chất tình tứ trong điệu Rumba “. Biểu cảm thái quá cũng làm cho bài thi nhảy kém đi về mặt trình diễn, do vậy người nữ cần giữ tốt được biểu cảm để không bị kích động thái quá và giúp cho VĐV nam vững những bước nhảy cuả mình, thực hiện tốt được những gì đã tập luyện và đã lên kế hoạch. Giám khảo Len Goodman đã có lần nhận xét về một bài thi nhảy cuả cặp Helio – Julianne là ” bản nhạc, bài nhạc, bài dựng khéo léo và tương đối khó cuả chuyên nghiệp Julianne đã làm cho bài thi nhảy cuả cặp này thật là tuyệt vời. Bài thi nhảy Free Style cuả Helio – Julianne trong đêm chung kết đã được giám khảo Len goodman đánh giá là hay nhất so với các bài thi nhảy free style trong đêm và đã bỏ xa các cặp khác”. Cặp Helio – Julianne đã đoạt chức vô địch DWTS muà thứ 5 với chiếc Mirrorball Trophy. Mặc dù Helio đã không nhảy tốt hơn Mel B về mặt kỹ thuật nhưng Helio đã biểu cảm và trình diễn rất tốt. Điều quan trọng gắn liền với biểu cảm là sự đồng điệu ‘good chemistry’ giữa hai thành viên (partners). Chuyên nghiệp Julianne đã có nhận xét về Good Chemistry như sau: YOU CAN FAKE THE FEET, YOU CAN FAKE THE ARMS BUT IT IS BORING TO WATCH IF THERE IS NO CHEMISTRY. Quả thật không sai. Tôi đã xem các VĐV thi trong Giải Vô Địch Quốc Gia trong tháng 10 ở Hà Nội vừa qua, tôi không thấy được chemistry giữa hai thành viên cuả các cặp thi đấu có thể một phần là do họ vẫn còn có một chút e dè và khoảng cách nhỏ trong quan hệ khiêu vũ giữa nam và nữ nên đã không tạo được một chemistry như ý chăng.
Kế tiếp vấn đề biểu cảm là vấn đề tốc độ. Tôi nhớ là đã được nghe một cựu vô địch thế giới nói về TỐC ĐỘ như sau: CÓ TỐC ĐỘ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ PHẢI NHANH (Speed does not mean Fast). Theo như tôi hiểu thì Speed gắn liền với Timing và mỗi bước nhảy đều phải được thực hiện trong khuôn khổ cuả thời gian qui định cuả nó. VĐV nhảy Jive và Quickstep không những phải có tốc độ tốt mà còn cần phải có năng lượng cao (high energy level). Chuyên nghiệp Julianne được nhiều người viết trên Forum DWTS khen là có nhũng bước nhảy tốc độ hơn so với chuyên nghiệp Cheryl, vì những bước xoay (turns và twists), di chuyển (moves) cuả Julianne thoăn thoắt hơn, sắc, gọn hơn những bước xoay và di chuyển cuả Cheryl. Có xem hai nữ chuyên nghiệp này nhảy cùng với những chuyên nghiệp khác trong những bài biểu diễn tập thể như là bài biểu diễn JIVE thì mới nhận thấy sự khác biệt giữa họ: những đòn KICKS và FLICKS cuả Julianne cao, nhanh và sắc ” kinh khủng “, Julianne rất tự nhiên và vui tươi suốt bài nhảy.
Một điều cuối cùng tôi viết ra đây là sau SEA GAMES vài người ở VN đã tỏ ra bi quan về tương lai môn KVQT ở VN. Tôi nghĩ là tương lai môn KVQT ở VN phần lớn tùy thuộc vào cái nhìn, sự đánh giá và đầu tư cuả những người lãnh đạo về dancesport ở VN. Tôi xin ghi lại nguyên văn bằng tiếng Anh nhận xét cuả một chuyên gia về KVQT đã viết trên Forum DWTS:
1) Many hours of training enhances their capablity to display their talent ;
2) Many hours of practice contributes to the memory, the movements and dance routine.
Tôi lúc nào cũng tin tưởng ở các VĐV Dancesport VN vì họ còn trẻ, còn thời gian để tập luyện và nhảy tốt hơn sau này nếu như họ được sự tiếp sức đúng mức và vững bền cuả các quý vị lãnh đạo Dancesport ở VN. SEA Games đã qua và giờ đây các bạn VĐV VN theo như tôi nghĩ đã có dịp tích lũy được những kinh nghiệm quý giá cho bản thân, có được tầm nhìn xa và tốt hơn về dancesport. Hình như là Tôn Tử một vị chiến lược gia lừng danh người Trung Hoa đã nói (nếu như tôi không nhầm) là: “BIẾT NGƯỜI BIẾT TA TRĂM TRẬN TRĂM THẮNG”.
Khiêu vũ thể thao là gì?

“Dancesport” là tên gọi mới của Thi đấu khiêu vũ. Khi nói đến “Dancesport” là chúng ta cần có các giải thi đấu khiêu vũ, chứ không phải chơi khiêu vũ như môn thể thao . Thử nhìn nhận khiêu vũ như một môn thể thao xem sao. Rõ ràng cũng như mọi môn thể thao khác, thông thường chia làm hai loại: Read the rest of this entry »
Khác với khiêu vũ giao tiếp và khiêu vũ biểu diễn, Khiêu vũ thể thao (KVTT) có những đòi hỏi rất cao về kỹ thuật và luật lệ thi đấu.